Showing posts with label Tạp ghi. Show all posts
Showing posts with label Tạp ghi. Show all posts

Monday, October 15, 2012

Khánh Ly, ở hay về? Thương và ghét!

Truyền thông trong nước hôm 24 và 25 tháng 9 đã đưa tin, Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn đã cấp phép cho nữ ca sỹ Khánh Ly về nước diễn từ giờ cho đến hết tháng 12, qua các thành phố tại Hà Nội, Ðà Nẵng và Saigon vào tháng 11, 2012 tới do công ty giải trí Ðồng Dao tổ chức.

Chuyện ca sĩ hải ngoại về hát ở Việt Nam thì đâu có gì lạ mà làm ầm ĩ, nhưng quả thật tin Khánh Ly về đã gây xôn xao dư luận và giới truyền thông đã dành nhiều trang báo, bản tin, có những tin tức và ý kiến khác nhau về chuyện này.

Về hay không về?

Trên nhiều trang web cộng đồng người Việt tại California, đã đăng bản tin: “Khánh Ly không hát tại Việt Nam trong tháng 11”. Theo bản tin thì Khánh Ly vẫn chưa biết gì về tin sẽ về Việt Nam biểu diễn. Hơn nữa, “từ nay đến tháng 11, kéo dài đến Tết Âm lịch, Khánh Ly hoàn toàn chuyên tâm cho chương trình CD & DVD Thánh Ca dâng Mẹ và Thiên Chúa, kỷ niệm 50 năm ca hát, thực hiện tại Nhà Thờ Kiếng tại quận Cam, California” hay “tháng 11 rất bận rộn với các chương trình hát cho nhà thờ ở Hawaii, rồi sang hát tại Châu Âu”...

Trong khi đó đài BBC loan báo Khánh Ly sẽ về hát ở Việt Nam qua các cuộc phỏng vấn những người quen biết xa gần với ca sĩ này.

Chuyện về của Khánh Ly, theo chính quyền trong nước: “Bằng quyết định này, chúng tôi muốn thể hiện chính sách cởi mở của nhà nước, tạo điều kiện cho những nghệ sĩ nay muốn hướng về tổ quốc, có thể trở về biểu diễn cho đồng bào mình, ngay trên quê hương mình.”

Với nhạc sĩ Phạm Duy, người đã về sống ở Việt Nam, phủ nhận tất cả sự vinh danh và yêu mến của hải ngoại, mấy năm sau “hồ hởi” cầm tờ CMND và hộ khẩu để chụp hình đăng báo thì khẳng định: “Ðây cũng là bằng chứng hùng hồn của chính sách đại đoàn kết dân tộc!”

Khánh Ly mà không phải là ai khác!

Chuyện về hát ở Việt Nam đâu còn là chuyện lạ: Chế Linh, Thanh Tuyền, Ðức Huy, Duy Quang, Elvis Phương, Lệ Thu, Ý Lan... và vô số các ca sĩ khác đã về Việt Nam, mà ít ai quan tâm bình luận. Trách chi thương nữ! Ngay cả Như Quỳnh, con gái của một cựu sĩ quan miền Nam đã được định cư tại Mỹ theo chương trình “H.O.,” hiện nay cũng đã có mặt tại Saigon để hát trong đêm chung kết Tiếng Hát Truyền Hình 2012. Ca sĩ cũng là một nghề, nghề thì cần làm việc để nuôi thân, thế thôi! Ngày xưa họ còn ngại, bây giờ chính phủ CSVN đã bật đèn xanh: “Tạo điều kiện cho những nghệ sĩ nay muốn hướng về tổ quốc” thì còn gì phải e dè. Nhưng khi có nguồn tin Khánh Ly về hát trong nước thì thiên hạ ầm ĩ.

Chuyện này có thể giải thích: “Người ta yêu và quý mến tên tuổi Khánh Ly hơn những người khác và không một ca sĩ nào đồng thời, hay cho đến bây giờ có thể so sánh với ca sĩ Khánh Ly, trước và sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản, trong cũng như ngoài nước!”

Vì khán giả quá thương yêu Khánh Ly, thương yêu nên mới giận hờn, trách móc, bàn luận... Chúng ta có thể hiểu điều này, nếu mọi người thờ ơ, chẳng hề quan tâm khi thấy những Ðức Huy, Chế Linh hay cả Lệ Thu về hát ở trong nước!

Khi yêu ai chúng ta thường muốn nhân vật đó làm, suy nghĩ theo ý chủ quan của mình, từ con cái, bạn bè cho đến những nhân vật thần tượng. Khi không vừa ý, điều đó thường mang lại khổ đau cho mình, thương trở thành ghét, yêu trở nên giận hờn, trách móc.

Có thể hiểu trong ba điều:

1. Người ca sĩ nào lại không yêu sân khấu và tiếng vỗ tay của khán giả, nên trình diễn trước đám đông là sự sống cần thiết của ca sĩ. Thời gian và tuổi tác sẵn sàng đào thải, không ai là “vượt thời gian” hay “muôn năm” cả! Vậy thì làm được gì thì làm, đừng để mọi sự trở nên muộn màng.

Trong nước từ ngày thay đổi chế độ, tiếng hát ngày xưa là nỗi thương nhớ khôn nguôi, Khánh Ly là cố nhân của những ngày tháng của kỷ niệm đã xa. Mà không phải là người cũ, người mới, những người đi từ miền Bắc đến Ðông Âu, những người Cộng Sản “đặc” từ rừng về, cũng muốn nghe và gặp Khánh Ly. Vậy thì Khánh Ly sẽ về.

2. Ai lại không yêu quê hương, xứ sở. Bỏ quê hương, xứ sở ra đi là một điều bất đắc dĩ, như cây nhổ rễ để mang đi trồng ở một vùng đất khác. Tuổi trẻ còn nhựa sống sinh lực, nhưng tuổi già thì héo hon. Chúng ta phải đau đớn lắm qua những tháng ngày sống xa quê hương. Là một người Việt tha hương, Khánh Ly cũng thế, vậy thì Khánh Ly sẽ về.

3. Ta thì nói: “Ðồng tiền là huyết mạch,” Tây thì cho là “Money First”. Trên đời này không thiếu người đã làm những việc gian dối, dơ bẩn, phi pháp để kiếm tiền, trong khi đó, người ca sĩ cũng như những người tử tế, lương thiện kiếm tiền bằng tài năng và sự lao động cực nhọc của mình, thì đâu có gì là đáng trách. Hiểu theo nghĩa đó, vậy thì Khánh Ly sẽ về.

Chỉ tiếc rằng tiếng hát Khánh Ly đã đồng hành với những nỗi thăng trầm của người tỵ nạn, khán giả đã thổn thức với Khánh Ly trong “Ðêm Chôn Dầu Vượt Biển,” “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt!” “Ðêm nhớ về Sài Gòn,” “Chút quà cho quê hương,” “Người di tản buồn,” “Ai về xứ Việt”. Hình như về “lập trường” Khánh Ly đã tuyên bố “Ði thì cùng đi, về thì cùng về!” Bây giờ chúng ta có thể xoay trở ý nghĩa của câu nói này theo nghĩa: “Bây giờ bao nhiêu ca sĩ hải ngoại đã về hát ở Việt Nam, đã đến lúc Khánh Ly ‘cùng về!’”

Giấy “cho phép về hát” đã có, hộ chiếu đã có, địa điểm trình diễn đã có, dư luận cũng có phần thuận lợi, tôi tin chắc rằng Khánh Ly sẽ về hát ở Việt Nam, không phải trong nay mai, mà khi bài báo này đến tay bạn đọc, chưa chừng Khánh Ly đã có mặt ở Hà Nội rồi! Thắc mắc của riêng tôi là trong các địa điểm trình diễn không có Huế, quê hương của Trịnh Công Sơn, quê hương của những “mẹ già lên núi tìm xương con về,” quê hương của những “mộ bia đều như nấm!” Phải chăng vì Huế xưa nay đã quá nghèo, thuộc loại “chân đất” không đủ khách hạng sang cho một buổi trình diễn của “nữ hoàng” Khánh Ly. Theo tôi đó là một điều đáng tiếc.

Tôi chỉ xin một điều. Khánh Ly thường thích nói nhiều trước khi hát. Nói đến chuyện yêu quê hương, nguồn cội thì cứ nói, nhưng chớ nói điều gì đi ngược lại chính con người mình trước đây và gây tổn thương cho những người đã vì chế độ Cộng Sản mà bỏ nước ra đi, bằng cách này hay cách khác, đang hiện diện ở ngoài đất nước, quê hương Việt Nam hôm nay; làm đau lòng những người đang hy sinh tranh đấu để thay đổi chế độ hiện hữu ở Việt Nam.

Thấp hèn hay cao cả, tất cả đều tự do mình làm ra, không ai có thể thay đổi được nhân cách của mình!

(Huy Phương)


Tuesday, August 7, 2012

Người Mễ đáng yêu

Người Việt chúng ta có thói quen gọi những người Châu Mỹ La Tinh là Mễ, bất kể họ đến từ Mễ Tây Cơ (Mexico,) Chile hay Ecuador... Ðến Mỹ, chúng ta sống trong một quốc gia hợp chủng cùng nhiều sắc dân khác như Ðại Hàn, Trung Hoa, Nhật, Lào, Cam Bốt... nhưng phải nói gần gũi với chúng ta nhất là người Mễ.



Người Mễ cầm bảng quảng cáo trên đường phố. (Hình: Huy Phương)

Bạn thử quay nhìn đời sống chung quanh chúng ta mỗi ngày, ở đâu mà không thấy người Mễ. Người Mễ đến cắt cỏ trong vườn bạn hay lái xe lấy rác mỗi tuần, người Mễ rửa xe, lau nhà, lợp mái nhà cho bạn, người Mễ bưng dọn, rửa chén bát trong quán ăn, cầm bảng quảng cáo ở đầu đường... Xa hơn nữa, người Mễ đang sửa đường cho bạn đi, dựng cầu qua xa lộ, làm những ngôi nhà mới. Người Mễ chiếm tỷ lệ cao trong các sắc dân thiểu số, làm việc cần cù, nặng nhọc. Những việc như xây dựng cầu cống, đường sá, nhà cửa, nhân công hầu hết là Mễ, người da trắng chỉ cầm bản vẽ, chỉ trỏ và ra lệnh.
Ðất Mễ Tây Cơ không nuôi nổi người Mễ, nên mỗi năm, hàng chục nghìn người Mễ vượt biên giới sang Hoa Kỳ để kiếm ăn, chính phủ Mỹ phải tăng cường quân đội đến vùng biên giới, xây tường cao, tăng cường tuần tra mà cũng không thể nào ngăn chặn nổi làn sóng vượt biên đông đảo và thường trực này. Chính phủ Mễ chỉ cung cấp khoảng 400,000 công việc trên 1.3 triệu nhân công. Số còn lại là thất nghiệp và tha phương để đem về cho quê nhà của họ trung bình $13 tỷ mỗi năm. Nhiều người Việt đã bỏ mình trên Thái Bình Dương vì tự do, nhưng những người Mễ lại qua biên giới Mỹ vì cái bụng đói. Họ đã chết vì đói khát trong sa mạc nóng cháy lên đến 110 độ hay hơn thế nữa. Là di dân lậu, đến được Mỹ rồi, kiếm được đồng tiền để nuôi sống bản thân qua ngày đã khó, lại lo toan dành dụm gửi tiền về quê để nuôi mẹ, nuôi vợ con.
Ðến Mỹ rồi, không phải ai cũng kiếm được đồng lương $5, $7 một giờ. Ở trước cửa hiệu bán vật liệu xây cất, làm vườn, lúc nào cũng có hàng chục người Mễ chờ đợi khách hàng để xin việc. Nếu bạn cần đào ao, sửa nhà, cưa gỗ hay dọn vườn, thì ra đây ngã giá rồi chở một hai ông thợ này về nhà, chẳng khó khăn gì. Người Mễ bán hoa ở góc đèn xanh đèn đỏ hay người Mễ bán dâu ở chỗ đông người. Bạn thử tìm cho tôi một người Việt Nam đứng trước cửa Home Depot kiếm việc hay bán hàng dạo như những người Mễ kia! Họ cũng là những người vụng về, không khéo tay, cứ nhìn những đồ thủ công nghệ của họ trên đất Mễ hay ngành nghề của họ đang làm thì đủ rõ, quả là thua xa người Việt về chuyện thông minh, khéo tay và khôn lanh.
Nước Mỹ đôi khi điên đầu vì nạn di dân về biên giới phía Nam. Chuyện này đã gây chia rẽ không ít qua các cuộc tranh luận tại Quốc Hội, qua các kỳ bầu cử. Ai cũng muốn ngăn chặn người Mễ tràn vào đất Mỹ, nhưng cũng có người lại cho rằng, nếu không có 31 triệu người nói tiếng Tây Ban Nha gốc La Tinh trên đất Mỹ thì quốc gia này sẽ ra sao?
“A Day Without A Mexican” (Một Ngày Không Có Người Mễ) là một bộ phim của đạo diễn Sergio Arau sản xuất năm 2004, nó cung cấp một cái nhìn châm biếm những hậu quả khi mà người Mễ ở tiểu bang California đột nhiên biến mất: “Một buổi sáng California thức dậy và đột ngột thấy rằng 1/3 dân số của mình đã biến mất.” Chuyện gì sẽ xảy ra sau đó? Ông chủ nhà hàng: “Tôi bước vào nhà hàng không thấy một ai. Thực phẩm không có người giao đến, chén bát dơ còn đầy trong bếp, đương nhiên không có cả khách hàng!” Quang cảnh ở ngoài phố thì “rác rến đầy trên đường, bệnh viện đóng cửa, không có giáo viên, không có trái cây hay rau quả, và ngoài đường phố vắng teo...”
Cả California cũng như ngày tận thế, đương nhiên Little Saigon cũng tiêu điều. Ai lau bàn, cửa chén, ai nhặt rau, đổ rác kể cả ai đổ bánh bèo hay nấu nồi phở cho bạn hôm nay! Không có sự hiện diện của 13.7 triệu người Mễ ở đây, dễ chừng ở California, mọi sự xảy ra bi đát như ngày tận thế.
Người làm phim “A Day Without A Mexican” hy vọng cộng đồng La Tinh có vị trí xứng đáng của nó như là một đóng góp quan trọng trong lịch sử và tương lai của Hoa Kỳ: “Chúng tôi sẽ được ghi lại quá trình và kết quả với hy vọng thúc đẩy hơn nữa các cuộc thảo luận đóng góp cho xã hội và nền kinh tế của chúng ta, không chỉ là người nhập cư La Tinh, nhưng tất cả những người từ nước khác. Ðó là những đóng góp tăng năng suất và nâng cao mức sống cho tất cả chúng ta.” Lẽ cố nhiên trong đó có cả những người Việt tại Mỹ.
Vậy mà người Việt vẫn nói giọng khinh bạc: “Không ăn cắp không phải Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam.” Một người Mễ tương đối có học, đã nói với tôi: “Tôi đã phải từ bỏ một mối tình với một thiếu nữ xinh đẹp Việt Nam, vì mẹ cô này khinh tôi ra mặt!”
Người Mễ có gì để đáng khinh?
Người Mễ “ăn cắp!” Một bà triệu phú ở quận Cam cho tôi biết, một cô Mễ được thuê dọn dẹp vệ sinh trong phòng bà, đã đánh cắp một chiếc nhẫn hột xoàn đắt tiền trong chiếc tủ trên đầu giường của bà, nhưng bà bỏ qua, không khai báo với cảnh sát. Bà nghĩ người Mễ nào sang đây kiếm việc làm cũng nghèo, khó khăn và phải nói là đáng thương. Nếu người đàn bà này ở tù, chắc chắn sẽ bỏ lại một đàn con nheo nhóc.
Ðây là một người Mễ ít học, có thể nói là không được đi học, đói rách phải lặn lội qua bao nhiêu gian khổ, chết chóc để bỏ xứ ra đi, vì nghèo mà phải ăn cắp, trong khi trong cộng đồng người Việt chúng ta có vô số người giàu có, trí thức mà vẫn... ăn cắp.
Bản thân tôi là một người đã bị ăn cắp căn cước để lấy tiền vô tội vạ từ quỹ Medicare của liên bang về những dịch vụ mà tôi không hề được hưởng. Người Mễ đã lừa bạn lấy tiền mua vật liệu sửa nhà rồi biến mất không? Người Mễ có lừa bán bảo hiểm “ma” cho bạn rồi cao bay xa chạy không? Có người Mễ nào làm nghề mua bán nhà đã giả chữ ký của bạn để co-sign cho một người mua nhà không đủ điều kiện không? Có người Mễ nào đã giật hụi, bán cẩm thạch giả cho bạn không? Người Mễ làm nghề nail với bạn có khi nào ra tiệm đối diện bên kia đường để giật khách lại của người chủ cũ không? Có người Mễ nào làm công mà phản chủ, học nghề để cạnh tranh với bạn không?
Người Mễ chính thống (để phân biệt với số người lai Tây Ban Nha) thường được xem là những người vai u thịt bắp, ăn no vác nặng, chân chất thật thà, có tính cách du mục, tạm thời, thích tự do không bị ràng buộc, đương nhiên rất khó thành công. Một vị chủ nhân người Việt có đất bên Mễ Tây Cơ, thuê khoảng 200 công nhân địa phương, kinh doanh nông phẩm, trồng mít, rau, bầu bí... chở về bán ở California và miền Ðông nước Mỹ. Lương công nhân ở đây mỗi ngày chỉ 80 pesos (chừng hơn $7) đã có những nhận xét về các nhân công người Mễ của ông: “Tất cả đều làm việc tùy theo thời vụ và tùy hứng của họ. Không thể nào kêu họ vào làm thường trực được, khó lắm.” Hay: “Nói chung thì người nông dân nào cũng rất chất phác, dễ thương. Ðặc biệt với người Mễ thì càng lè phè hơn nữa. Lãnh lương xong là vô quán bia ngay. Lắm khi lương suốt tuần chỉ đủ trả một bữa nhậu suốt đêm với nhau.”
Ðó phải chăng là những đặc tính đáng yêu như hầu hết dân Nam bộ của chúng ta không?
Dù đôi khi khác nhau, chúng ta đến đây vì lý do chế độ chính trị, người Mễ Tây Cơ vì chế độ cầm quyền bất lực, không tạo nổi công ăn việc cho dân, băng đảng ma túy tràn lan, nhưng họ và mình cũng giống nhau ở chỗ là phải bỏ quê hương, làng mạc ra đi, phải chăng “cùng một lứa bên trời lận đận!”
Người Mễ trên đất Mỹ, sống khó khăn hơn là chúng ta, họ chật vật nghèo khó, có khi 10 người ở chung với nhau trong một căn chung cư một phòng, đi lại bằng phương tiện di chuyển công cộng, mua được một cái xe cũ thì nhiều khi không đủ tiền mua bảo hiểm, con cái học hành dở dang vì phải lăn lưng ra đời kiếm cơm sớm.
Người Mễ không những đáng yêu mà còn đáng thương nữa!

Wednesday, October 12, 2011

MỘT BỜ VAI


“Em yếu đuối thèm bờ vai để khóc
Mà anh thì biền biệt ở nơi xa...” (*)
Mẹ nói với tôi: “Bộ phận quan trọng nhất trên cơ thể chính là đôi vai. Nó quan trọng vì nó để cho những người bạn hay người thân của chúng ta gục lên khi họ muốn khóc.
Trong cuộc sống, ai cũng cần một đôi vai để tựa lên đó mà khóc mỗi khi chúng ta buồn rầu, khổ đau hay thất vọng. Mẹ hy vọng con cũng có những bờ vai như thế để tựa lên những khi con cần.” Tôi đã đọc được những dòng này trong một trang Internet và muốn ghi lại ở đây để chúng ta cùng đọc.
Vì sao đó không là một vòng tay để ôm ấp, một đôi môi để cười, hay là một đôi mắt trìu mến. Bây giờ tôi mới biết vì sao lại là một bờ vai mà không là gì khác!
Năm đó là một năm đầy tuyệt vọng khổ đau nhất của Arnold, người bạn cùng sở làm với chúng tôi. Anh có một đứa con trai lên bốn tuổi bị bệnh chậm phát triển. Một ngày nọ khi vợ anh phải xa nhà về thăm mẹ, anh chăm sóc đứa con trai, và trong một bữa ăn, vì lơ đãng nói chuyện điện thoại với một người bạn, anh để cậu con trai mắc nghẹn, khi biết ra thì không còn cách gì cứu kịp. Vì cái chết của đứa con, hạnh phúc của vợ chồng anh gần như tan vỡ. Arnold trở thành một người khổ đau, trầm cảm, cáu kỉnh, bất bình thường, xa lánh mọi người, vì vậy bạn đồng nghiệp của anh không ai dám đến gần để hỏi han tâm sự cùng anh. Cuối tháng 6 năm ấy là sinh nhật của Arnold, chúng tôi thu xếp với nhau để dành cho anh một surprise party. Khi anh bước vào căn phòng trang trí đầy màu sắc với những banner, bong bóng và hoa chúc mừng, chúng tôi vây quanh anh và cùng hát khúc ca mừng Sinh Nhật. Arnold đứng sững một lúc, rồi bật khóc nức nở như một đứa trẻ thơ. Thì ra trên cuộc đời này, anh tưởng mình là một người đơn độc, vẫn có những người quan tâm, nghĩ đến và thương yêu anh. Sau ngày đó, Arnold trở thành một con người khác, vui vẻ, tự tin, hoạt bát và trở lại cuộc sống bình thường. Tình yêu thương của những người chung quanh đã vực anh dậy, như những dòng nước mát đã tưới cho những bông hoa khô héo.

Nhiều năm trước đây, người ta đã tìm thấy người thi sĩ ấy nằm chết trong chiếc xe của ông đậu tại sân một ngôi chùa, trong xe còn một cái car-seat đã cũ. Nếu tối hôm trước, cửa chùa mở rộng cho anh một chỗ ngủ, nếu hôm qua có một người bạn gặp gỡ thăm hỏi và chia sẻ nỗi buồn của anh, thì có lẽ câu chuyện đã đổi khác. Không có vợ con, trong khổ đau, tuyệt vọng, nếu anh còn một một người bạn, một người thương, một người chịu khó lắng tai nghe anh, một cánh cửa mở ra, một vòng tay ấm áp đợi anh về, nói rõ ra, một bờ vai để cho anh dựa vào đó mà khóc cho nguôi đi những nỗi muộn phiền, thì đâu đến nỗi.

Tại Nhật, Hoa Kỳ và Nam Hàn, nhiều học sinh thường luôn phải chịu sức ép nặng nề từ những vụ bắt nạt tại nhà trường, gây những tổn thương tâm lý nghiêm trọng và đưa các em đến chỗ tự sát, như em Brandon, một học sinh ở Oklahoma, đã bị bạn bè to khỏe hơn chế giễu, bắt nạt, khiến em cảm thấy nhà trường là một địa ngục, nên đã tự tử bằng súng. Cha mẹ có bao giờ quan tâm lắng nghe, an ủi và giải quyết những lo lắng ưu tư của con mình, đã ngồi xuống như một người bạn, nghe con giãi bày tâm sự, từ những chuyện học hành, giao tiếp cho đến tình cảm chưa? Là người mẹ, có bao giờ bạn ngồi gần lại với con gái, nghe con tỉ tê những chuyện ở trường, những chuyện vui, chuyện buồn, kể cả chuyện vấp ngã, thất vọng. Làm cha, làm mẹ có bao giờ bạn nghiêng bờ vai xuống cho con cái chưa? Khi chúng ta đau khổ, buồn phiền mà không biết bày tỏ cùng ai, chúng ta sẽ rơi vào tuyệt vọng, trầm uất và dễ dàng tìm đến cái chết. Ở Mỹ, “The Depression Hotline”: 1-630-482-9696, “The Suicide Hotline”: 1-800-SUICIDE (1-800-784-2433), “The LifeLine”: (1-800-273-8255) chính là đôi tai đang lắng nghe, là bờ vai cho những ai muốn trút bỏ những khó khăn, khổ đau cần giải quyết.

Nhiều bậc cha mẹ lo làm giàu, nghĩ rằng mình đã lo cho con vào trường tốt, cho con phòng ốc tiện nghi, xe đẹp là đã đủ. Những thắc mắc, va chạm, yếu đuối, lầm lỡ của con họ không hề biết, thậm chí còn đẩy con vào những quyết định độc đoán, ích kỷ và lỗi thời của mình, cuối cùng kết quả là cái chết thảm khốc của con trẻ cô đơn, thất vọng. Nhiều nhà tâm lý học đã cho rằng trước khi quyết định từ bỏ cõi đời, con người đã lâm vào trạng thái buồn phiền, thất vọng vì một điều gì đó mà không tìm được ai chia sẻ cho vơi bớt nỗi buồn. Họ không có người an ủi, động viên và giúp đỡ mình tìm lại nguồn vui sống. Họ cảm thấy cô đơn và tuyệt vọng. Trong một xã hội mà nhu cầu vật chất ngày càng tăng, con người phải làm việc tất bật không có thì giờ để gần gũi, chia sẻ, cảm nhận và thương yêu người khác, trong khi đó, trái tim lại luôn luôn cần một nhịp đập cảm thông. Con người luôn luôn cần sự hiện diện của người thân, cần nghe những lời ngọt ngào, sự động viên ân cần. Khi nhu cầu muôn thuở này không được đáp ứng, người ta thấy trống rỗng, hụt hẫng, nhiều khi không chịu đựng nổi.
Nhiều vị cao niên không ốm đau gì quan trọng nhưng thích đi bác sĩ để có thể than vãn đau chỗ này, mệt mỏi chỗ kia. Nhiều phụ nữ đến phòng mạch bác sĩ để tâm sự chuyện gia đình, chồng con cho đỡ ấm ức, mà con cái, bạn bè không ai có thời giờ và kiên nhẫn để ngồi nghe. Những lúc đó, bác sĩ tìm bệnh thì ít mà nghe quý bà nói thì nhiều. Cuối cùng người bác sĩ đã biết lắng nghe các bà, chính là người bác sĩ giỏi được các bà khen. Không cần phải tìm đến bác sĩ tâm lý, ai biết nghe, biết khuyên giải, đó là bác sĩ tâm lý. Còn ai là người thích đi coi bói, phải chăng đó là những người đang có chuyện thắc mắc, buồn phiền, cho nên khi đến thầy, chưa bấm độn, lấy lá số, thầy đã rõ hết gia đạo, tâm tư của người đối diện rồi. Khi thầy đã biết hết chuyện nhà, chuyện buồn vui, nhìn rõ gan ruột của khách rồi thì làm cho khách tin không phải là chuyện khó. Rút cuộc thì bác sĩ, thầy bói đều là những “bờ vai” cho những người yếu đuối nương tựa.

Một lời thăm hỏi một người bạn lâu ngày không gặp, một tấm thiệp cuối năm, một cái bắt tay thân tình, một nụ cười ấm áp có thể làm thay đổi cuộc sống của một người, và bản thân chúng ta cũng cần như vậy. Nhiều người đã cho chúng ta một bóng mát, một chỗ nương tựa, nhưng có khi nào chúng ta đã là bóng mát, là chỗ nương tựa cho ai chưa?

(*) Không biết tác giả.

Sunday, August 14, 2011

Vu Lan: Nghĩ đến tấm lòng Cha Mẹ

Những năm gần đây, thành phố Las Vegas có một tiệm cá nướng da giòn rất ngon, tôi đã được ăn qua một hai lần, những lần sau, khi trở lại ngày Chủ Nhật, rất bực mình vì tiệm ăn treo bảng đóng cửa.
Tất cả tiệm ăn ở các vùng đông người Việt đều sống nhờ hai ngày cuối tuần, thế mà ông chủ nhỏ này, một kỹ sư bỏ nghề, lại không thèm mở cửa tiệm một ngày đông khách, nhất là tại thành phố cờ bạc, mà phần đông người Việt chúng ta hay đến đó vào ngày Chủ Nhật? Trong một lần trở lại tiệm ăn của ông, chủ nhân mới cho biết lý do: “Vợ chồng cháu phải đóng cửa ngày Chủ Nhật để có thời giờ gần gũi, chăm sóc các cháu ở nhà. Vì cuộc sống, đi làm suốt tuần, nhiều khi cháu không có thời giờ nhìn đến các con!”
Người Mỹ đã bắt đầu thấy sự quan trọng trong việc dạy dỗ gần gũi con cái, sợ con cái dễ bị hư hỏng, không thể giao phó hoàn toàn cho nhà trường. Nhiều gia đình đã thu xếp cho các bà mẹ ở nhà lo việc nội trợ và đưa đón, chăm sóc con cái, và chuyện này đã trở nên bình thường trong đời sống Mỹ, không khác chi những gia đình người Việt ngày xưa, mà hầu hết phụ nữ trong gia đình đều ghi nghề nghiệp của mình là “nội trợ!” Thế mới biết biết lòng cha mẹ lúc nào cũng hy sinh cuộc sống của cá nhân mình, dù phải chật vật, khó khăn để nghĩ đến hạnh phúc và tương lai của con cái. Khi cha mẹ đến tuổi già (cũng như chúng ta còn con dại ngày trước), mấy ai đã bỏ bớt công việc, bớt lại chút phúc lợi để có thời giờ chăm sóc, gần gũi cha mẹ, như ngày trước cha mẹ đã lo cho mình.
Phải chăng vì con cái đó là con cái chung của cả hai người cả cha lẫn mẹ, trong khi cha mẹ lại là cha mẹ chung của cả năm bảy đứa con. Năm bảy đứa con đó lại có thêm vợ, thêm chồng, bên nội bên ngoại nên không ai có trách nhiệm về cha mẹ cả, kiểu “cha chung không ai khóc!” Nhiều gia đình cha mẹ chỉ có một hai con, đôi khi cha mẹ lại được chăm sóc thương yêu chu đáo hơn là một gia đình đông con. Ðứa lớn tỵ nạnh đứa nhỏ, đứa nhỏ lại cho đó là trách nhiệm anh chị, suy nghĩ hơn thiệt về giàu nghèo phương tiện. Cha mẹ bên con trai thấy con dâu nuôi mẹ trong nhà nhiều khi không vừa ý, bên nhà gái thấy con mình phải lo săn sóc cung phụng cho cha mẹ chồng thì sinh bất mãn.
Ngày xưa ở phương Ðông, đạo hiếu rất được đề cao và tôn trọng, “nhị thập tứ hiếu” đã được in thành sách để dạy đời, mà ở Việt Nam trong nhân gian vẫn có những câu ca dao cay đắng nói về tình con cái đối với cha mẹ: “Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày!”
Ông Mạnh Tử có dạy: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu chi đại” (có 3 điều bất hiếu, không có con là điều nặng nhất), hai điều còn lại là cha mẹ già không chịu nuôi nấng và làm điều bậy để hoen ố tới gia phong. Ngày nay chuyện con cái không sinh con là điều chúng lựa chọn, cha mẹ cũng không mong có con để nối dõi tông đường, vì ngày xưa lấy lễ làm chủ yếu, người xưa lo sợ khi cha mẹ, ông bà qua đời, không có ai cúng giỗ, hương khói nhưng ngày nay, đâu có ai cho đó là điều đáng quan tâm.
Nói chuyện bất hiếu vì không nuôi cha mẹ, thì ở Mỹ ngày nay, các bậc cha mẹ đến tuổi già, không cần đến con nuôi nấng, vì đã có phúc lợi xã hội, có tiền ăn nhà ở, thuốc men nên con cái cũng không cần phải bỏ tiền ra để lo miếng cơm, manh áo, viên thuốc cho cha mẹ. Nhưng hiện nay tại Mỹ, việc chăm sóc cho người cao niên là một kỹ nghệ làm tiền của những “nhà thầu nhân đạo” lớn mạnh, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn. Chăm sóc cha mẹ tại nhà cũng là để tránh để cha, mẹ trở thành nạn nhân của bọn kinh doanh, mà hậu quả khó lường.
Như vậy là gánh nặng của ơn sinh thành đã có chính phủ lo cho gần hết, phải chăng còn lại, là cha mẹ chỉ mong có sự thăm hỏi, quan tâm với những lời ân cần của những đứa con mà họ đã bỏ hết gần cuộc đời ra để dạy dỗ, thương yêu. Nhưng những điều này, tuy vậy không phải đứa con nào cũng làm được.
Sắp xếp công việc để dành thời giờ chăm sóc cho cha mẹ, như ngày trước cha mẹ đã ở nhà để lo cho con cái chu đáo hơn. Metlife vừa lên tiếng khuyến cáo cho những ai có ý định nghỉ việc để ở nhà để săn sóc cha mẹ già là phải suy nghĩ cẩn thận, vì họ sẽ mất nguồn lợi tức hiện tại và thiệt hại luôn đến tiền hưu. Mặt khác sau vài năm, khó có thể trở lại việc cũ vì khả năng chuyên môn không còn và giới chủ nhân không còn cần dùng đến bạn nữa! Metlife còn khuyên người ta là hãy để ý đến khả năng tài chánh của cha, mẹ để xem có thể giúp ích gì cho gia đình khi mình phải bỏ việc ở nhà. Ngoài ra còn phải tính toán xem khả năng của Medicare và Medicaid sẽ trả cho những dịch vụ gì cho người già, tức là cha mẹ mình để khỏi phải tính toán sai lầm, hối hận về sau!
Nói chung đây là tất cả những sự tính toán, sắp đặt hơn thiệt, chứ không phải làm theo tình cảm thương yêu hay bổn phận như những gì cha mẹ đã dành cho con. Vì sao chúng ta khi lo lắng cho con cái hết lòng như thế, không bao giờ tính toán thiệt hơn, nhưng khi cha mẹ già yếu, nếu phải bỏ bớt công việc, thời gian và tiền bạc để đền ơn đáp nghĩa thì lại né tránh. Ðã có biết bao nhiêu bậc cha mẹ già hiu quạnh trong nhà dưỡng lão, mắt dõi nơi bậc cửa vào ra để chờ đời một bóng dáng quen thân.
Trên báo chí chúng ta đã đọc được nhiều câu chuyện thương tâm của những bà mẹ già “bị bỏ quên” trong nhà dưỡng lão đã nhiều năm, những đứa con bận bịu những chuyến du lịch xa không còn nhớ đến cha mẹ. Một đôi vợ chồng khác lại không dám rời nhà vài ngày vì sợ con chó nhỏ không chăm sóc, trong khi mẹ già thì phó mặc cho nursing home.
Ðồng ý là “nước mắt chảy xuôi”, nhưng làm sao để trong cuộc đời, chúng ta nghĩ đến cha mẹ sau này với tấm lòng thương yêu như khi chúng ta nghĩ đến con cái bây giờ!

(Tạp ghi Huy Phương)

Sunday, May 22, 2011

NỖI ĐAU VĂN HÓA (Huy Phương)

Tứ Phương Vô Sự” thuộc quần thể Ðại Nội, cố đô Huế, được các vua Nguyễn xây trên mặt thành phía Bắc, có cửa ra mang tên Hòa Bình để nhà vua những lúc rỗi rảnh không cần nhọc công vi hành ra ngoài dân dã, đứng từ ngôi lầu này có thể quan sát cả một vùng đất rộng lớn ngoài cung cấm, nhìn sự sinh hoạt đi lại của người dân, mà mong rằng, bốn phương không có sự gì xảy ra. Lầu “Tứ Phương Vô Sự” cũng như tên cửa “Hòa Bình” chính là điều mong muốn của nhà lãnh đạo quốc gia mong cho (bốn phương) đất nước được an bình, thịnh trị.

Thật ra chúng tôi không lấy gì làm ngạc nhiên khi nghe tin di tích này trở thành quán cà phê cho du khách để kiếm lợi. Nói kiếm lợi không phải là nói oan, vì đây là một mưu mô có tính toán của tập thể những kẻ cầm quyền ở Huế, sau khi đã bỏ ra khoảng 45,000 đô la (ngân khoản của UNESCO) để sơn sửa, trùng tu để sau đó lại cho một nhân viên phe cánh cùng cơ quan, thuộc Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích (!)“bảo tồn” bằng cách bỏ thầu 10,000 đô la mỗi năm để khai thác. Ðể có lợi nhuận chia chác với các “giới chức văn hóa” có trách nhiệm, đương nhiên quán cà phê phải khai thác kiểu “phi văn hóa” cho đông khách. Không ngạc nhiên vì từ năm 1982, khi đi tù về, có cơ hội trở lại Huế, chúng tôi đã thấy đàn Nam Giao là nơi triều Nguyễn lập ra để tế lễ Trời Ðất đã bị các đảng viên vô văn hóa ở Huế “lấy điểm” với trung ương Hà Nội, biến thành bia “Tổ Quốc Ghi Công” liệt sĩ Cộng Sản. Nếu không có sự can thiệp của cơ quan UNESCO Liên Hiệp Quốc, thì khu vực thiêng liêng này, ngày nay chưa chừng đã thành khách sạn hay nhà nghỉ cao cấp của trung ương đảng, vì đàn Nam Giao là một đại điểm đặc biệt, từ đây, gạch một trục thẳng vào điện Thái Hòa, Ðại Nội sẽ qua đường Nam Giao, sông Hương, Phú Văn Lâu, Kỳ Ðài và Ngọ Môn.
Thời gian 1980, Ty Văn Hóa đã dùng tầng trệt của cửa Ngọ Môn làm rạp chiếu phim Liên Xô-Tiệp Khắc, lấy tiền để “cải thiện”. Mười năm trước đây, chính quyền Huế đã có dự án cho xây khách sạn trên đồi Vọng Cảnh (Belvédère) là một ngọn đồi rất đẹp, đứng nơi đây có thể nhìn được cảnh non nước hữu tình của dòng sông Hương. Nếu không có sự phản ứng mạnh mẽ của quần chúng, truyền thông và những người còn tâm huyết với văn hóa, thì bọn trục lợi (có làm có ăn) của Huế đã phá tan nát một quang cảnh thiên nhiên hiếm quý của đất nước.
Trong toàn bộ cung cách “vô văn hóa” như vậy, nên những nhà làm phim (cũng là văn hóa), thay vì phải dựng phim trường sau khi nghiên cứu trang phục, kiến trúc, phong tục... của thời đại lịch sử của chuyện phim, thì lại dễ dãi vay mượn các di tích lịch sử có sẵn, sơn phết qua loa để làm phim trường. Năm 1991, nhà làm phim “Tình Người” đã mượn phòng ngủ tại tư dinh của Vua Bảo Ðại ở Ðà Lạt để quay cảnh ân ái của hai tài tử Thanh Lan-Lê Tuấn. Mới đây, trong phim Trần Thủ Ðộ, ngoài việc đoàn làm phim sang Tàu mượn cung điện nơi này để làm phim lịch sử Việt Nam, vua, quan, lính đều mặc y phục của Tàu, tại Huế, đạo diễn đã cho dẹp toàn bộ sập thờ, án thờ, Kim vị (thờ Vua Minh Mạng), Khánh vị (thờ Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa) trong lăng Minh Mạng... để dựng thành phòng ngủ, chỗ “giường chiếu” cho vua và hoàng hậu nhà Lý. Khi nhiều người, ngay cả con cháu Nguyễn Phước Tộc phản đối việc làm vô văn hóa này thì chính quyền Huế chỉ nói là sẽ làm việc với đoàn làm phim và họ hứa sẽ hoàn trả lại nguyên cảnh trí như cũ. Ðây là chủ trương “không để lãng phí một công trình tuyệt tác của kinh đô Huế xưa” của chính quyền để có thể cho vay, mượn, thuê... di tích cố đô một cách tự nhiên, miễn là có tiền bỏ túi.
Bây giờ tiền là trên hết. Tất cả các cơ quan từ trung ương đến địa phương đều có các cơ quan, nhân viên ăn lương nhà nước nhưng làm dịch vụ kiếm tiền chia nhau. Trường học có căng tin, Bộ Nội Vụ có nhà nghỉ cho khách thuê, Bộ Công An có xe du lịch cho mướn. Quân đội có nhà máy sản xuất. Một cựu tù “cải tạo” có thể trả thù xưa bằng cách đi du lịch Hà Nội, hợp đồng thuê xe du lịch của Bộ Công An, do một anh trung úy công an lái, mở và đóng cửa xe mỗi khi muốn đi đâu cho bõ những ngày gian khổ, nhục nhã “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” trong trại tù tập trung dưới sự canh chừng, hoạnh họe của những tên lính canh tù oắt con. Từ Nam ra Bắc, từ cao xuống thấp, từ trung ương đảng cho đến dân đen, ai cũng vì tiền. Chồng chở vợ đi khách, mẹ đưa con nhỏ qua biên giới bán thân, người ta đổi danh dự để lấy tiền, bỏ đạo lý vì tiền, nhất là những kẻ có quyền lực, sá chi chút di tích “phong kiến” còn sót lại.
Một kiến trúc cổ, đẹp đẽ và có ý nghĩa như lầu Tứ Phương Vô Sự lại trở thành một quán cà phê tầm thường, chỗ cho khách lui tới, ồ ào. Di tích lịch sử này bây giờ lại có bàn ông Ðịa, bàn thờ Thần Tài để mong thần linh phù hộ cho đắt khách vãng lai. Cà phê hẳn có nhạc, có bóng tối đồng lõa. Bỏ ra một số tiền lớn để đấu thầu, hẳn chủ nhân phải có đầu óc tính toán sao cho có lời. Trước phản ứng của bà con Nguyễn Phước Tộc tại Huế cũng như dân chúng trước cảnh “chướng tai gai mắt” này, các giới chức “lãnh đạo” không biết hổ thẹn và phục thiện lại biện minh: “Ðó không phải là quán cà phê (!),mà là chỗ để trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế phục vụ du khách tham quan. Với địa điểm này, du khách khi đến Ðại Nội Huế sẽ có một chỗ đàng hoàng, tử tế để nghỉ ngơi, ngắm cảnh. Chủ trương của UBND tỉnh là nơi đây sẽ là mô hình thí điểm làm cho di tích trở nên sống động và phát huy hết giá trị của di tích”, và cho rằng đây là “nơi dừng chân cho du khách chứ không phải vì mục đích kinh doanh”. Nói là mô hình, thí điểm, như vậy trong tương lai, lầu “Tứ Phương Vô Sự” bán cà phê đắt khách có lời thì những nhà “văn hóa xứ Huế” sẽ tiếp tục khai thác đến Ngọ Môn, điện Thái Hòa hay tháp Thiên Mụ để mở thêm quán cà phê nữa chăng?
Ở Huế hiện nay với mục đích kinh doanh, con cháu đã khai thác các khu nhà thờ, phủ, dinh xưa của ông cha ở những nơi như Vỹ Dạ, Gia Hội, Thành Nội có vườn cây bóng mát, để làm “cà phê vườn” đến nỗi du khách đi đâu cũng gặp quán cà phê, chưa đủ hay sao mà còn khai thác đến các đền đài, cung điện, di tích lịch sử để kiếm tiền trong thời mở cửa của Cộng Sản. Dân Huế và con cháu nhà Nguyễn chưa quên tội ác của Việt Minh Cộng Sản tàn phá cung diện, di tích lịch sử của triều Nguyễn trong chiến dịch “tiêu thổ kháng chiến”, khi Pháp trở lại, vào tháng 12 năm 1946 đã đốt cháy ba ngôi điện trong đại nội là điện Cần Chánh, Càn Thành và Kiến Trung, lửa cháy một tháng chưa tắt.
Con cháu nhà Nguyễn xót xa, con dân xứ Huế cũng hổ thẹn mà đồng bào trong và ngoài nước cũng đau chung nỗi đau... văn hóa. Các công trình văn hóa đang được quản lý bởi một đường lối và những con người “vô văn hóa”. Không những vô văn hóa mà còn bị chửi là “vô giáo dục”, như ngày xưa lúc còn nhỏ, chúng tôi tinh nghịch thách nhau đứng đái trước sân đình làng, bị các bô lão nắm đầu giao cho cha mẹ. Bây giờ có một bọn đang đái vào di tích lịch sử của cha ông mà miệng vẫn bô bô hô hào văn hóa, văn minh.

Monday, March 21, 2011

Cuộn Chỉ Thời Gian

   

                       "Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
                      Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”                                                                                (Kahlil Gibran)
Chuyện gì nhắc chúng ta biết rằng một ngày đã qua: Tiếng đồng hồ báo thức mỗi buổi sáng hay khi chúng ta mở vòi nước để làm vệ sinh khi ra khỏi giường? Chuyện gì nhắc chúng ta một tuần lễ đã qua: Sáng Thứ Bảy này dậy trễ hay có hẹn đưa gia đình đi chơi cuối tuần?
Chuyện gì nhắc chúng ta hai tuần đã qua: Ðến kỳ lãnh check lương hay ngày rằm hay mồng một ăn chay? Chuyện gì nhắc chúng ta một tháng đã qua: Trả các thứ bill nhà, bill điện, bill nước? Chuyện gì nhắc chúng ta sáu tháng đã qua: Vặn đồng hồ lui hay tới một giờ? Chuyện gì nhắc một năm đã trôi qua: Phải chăng là những khúc ca Giáng Sinh rộn ràng và các thương xá giăng đèn kết hoa, và với người Việt là hoa cúc, hoa mai, bánh chưng, bánh tét và những bài hát về Mùa Xuân đã trở lại?
Trọn một năm rồi, hôm nay tôi trở lại văn phòng dịch vụ khai thuế mà cảm thấy như mới đến đây hôm qua, cũng anh chàng khai thuế vui tính, những chồng hồ sơ ngổn ngang, trên vách chiếc đồng hồ tròn chậm rãi đếm giây... Cách đây một năm tôi đã ngồi trên chiếc ghế này, hôm nay tôi lại đến đây. Mùa khai thuế đã tới. Một năm nữa đã qua. Ði khai thuế mỗi năm hẳn lòng ta chẳng có cảm xúc gì, nhưng bạn cứ tưởng tượng, nào ngày con cháu chúng ta tốt nghiệp, nào ngày tan trường, ngày tựu trường, Mùa Thu lá rụng, rồi Mùa Ðông tuyết rơi.
Không những một giờ, một ngày qua rất nhanh, mà một năm, mười năm cũng như phút chốc. Phương Ðông nói: “Thời gian như bóng câu qua cửa sổ” (câu quang quá khích). Ca dao Việt Nam lại nói: “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa -Nó đi đi mãi chẳng chờ đợi ai!” Thời gian có những bước đi cố định của nó, nhưng qua chủ quan, nhanh chậm hay dài ngắn lại “tùy người đối diện”, dù Lamartine đã thốt nên lời: “Thời gian ơi, xin hãy ngừng cánh bay.” (Ô temps, suspends ton vol!), cũng như chúng ta vẫn thường than vãn: “Ngày vui qua mau!” Trái lại, Kim Trọng tương tư Thúy Kiều thì một ngày cũng dài bằng ba năm: “Sầu đong càng lắc càng đầy- Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!” Người bị gông cùm, lao lý thì “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.” Phải chăng vì: “Người vui thì than đêm ngắn- Kẻ buồn lại hận canh dài.” Những ngày ở trong tù 35 năm về trước, hằng ngày phải lao động khổ sai vất vả, chúng tôi thấy ngày quá dài, chỉ mong đến lúc có tiếng kẻng “thu dụng cụ” để ra về, kiếm chén khoai lửng dạ và ngã tấm thân gầy guộc mệt nhoài trên chiếc chõng tre. Ðêm là lúc tự do, riêng rẽ một mình thì quá ngắn, vì người tù cảm thấy sợ hãi khi nghe tiếng kẻng đánh thức mỗi buổi sớm mai để thức dậy trước một ngày nữa, vất vả và vô vọng.
Bây giờ đến lúc tóc đã hoa râm, ngoảnh mặt nhìn lại: “Hồng Hồng! Tuyết Tuyết! Mới ngày nào còn chữa biết chi chi!” (Nguyễn Công Trứ), con cháu ngày nào, còn bồng bế nay đã trưởng thành, nghĩ lại “đời người như giấc mộng.” Nghĩ lại, thời hoa niên, rồi chiến tranh, tù đày, lưu lạc quê người cũng qua nhanh. Bây giờ không còn nói chuyện một ngày qua, một tuần qua, một tháng qua, mà nói chuyện mười năm, ba mươi năm, sáu mươi năm qua. Nhìn lại quá khứ, hình như chúng ta đều mang trong lòng nỗi tiếc nuối hơn là vui mừng vì chúng ta đã làm được điều gì đó trong những ngày tháng cũ.
Ai cũng nói được câu “dĩ vãng là lịch sử,” là những điều đã qua, nhưng tất cả văn thơ, âm nhạc đều khóc lóc, thương tiếc những ngày tháng cũ. Người thì xin đi lại từ đầu, người thì gọi ngày xưa là hoa bướm... Hiện tại là món quà Trời cho (Present) nhưng ít ai biết giá trị mà nâng niu nó, để khi nó đã trở thành dĩ vãng mới buồn bã khóc than. Phật Pháp cũng có nói đến: “Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, hãy sống tĩnh thức trong giờ phút hiện tại!”
Ðể biết giá trị của thời gian, phương Tây nói:
“Ðể biết giá trị của một năm, hãy hỏi một sinh viên vừa thi trượt năm cuối.
Ðể biết giá trị của một tháng hãy hỏi một người mẹ sanh non.
Ðể biết giá trị của một tuần hãy hỏi chủ bút của một tuần báo.
Ðể biết giá trị của một giờ, hãy hỏi những người yêu đang chờ đợi gặp nhau.
Ðể biết giá trị của một phút, hãy hỏi người vừa lỡ chuyến tàu.
Ðể biết giá trị của một giây, hãy hỏi người vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.
Ðể biết giá trị của một phần nghìn giây hãy hỏi người vừa nhận huy chương bạc trong cuộc thi Olympic.”

Thời gian đi những bước đều đặn, như tiếng đồng hồ kêu “tic-toc” nhịp từng giây, nó chẳng bao giờ có thể chạy nhanh hơn theo ý ta, hay chậm lại để chờ đợi ai. Trong những chuyện cổ tích của Ðông Âu, ông Tiên cho mỗi con người một “cuộn chỉ thời gian”, chiều dài của cuộn chỉ là chiều dài của mỗi đời người. Ai thấy đời khổ đau thì cứ kéo vội sợi chỉ đi nhanh, ai muốn hưởng hạnh phúc thì kéo cuộn chỉ chậm lại.
Này người bạn già của tôi ơi! Khổ đau hay hạnh phúc, bạn đã kéo “cuộn chỉ đời” bạn, nhanh hay chậm, thì chúng ta chỉ còn lại mươi vòng chỉ nữa thôi. Vì thời gian vẫn trôi đi, nên chúng ta không thể dừng lại, mà vẫn phải tiếp tục kéo sợi chỉ ra khỏi cái lõi của nó, cho đến lúc thở ra hơi thở... cuối cùng. Liệu trong mươi vòng chỉ còn lại này, chúng ta có thể làm gì để bù đắp cho gần cả một “cuộn chỉ đời” dài dằng dặc của những ngày tháng đã qua từ bao lâu nay không?
(Huy Phương)

Sunday, February 6, 2011

Cơn Sốt Mỹ Du - Tạp ghi Huy Phương

 
Tôi không biết ai là tác giả câu nói “nếu biết đi, cái cột đèn cũng đã ra đi”, nhưng lời nói này đã mô tả thảm trạng khốn nạn, khổ đau của dân tộc chúng ta sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Kể từ ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, hàng triệu người đã tìm cách bỏ nước ra đi, chấp nhận chết chóc, tù đày để tìm tự do.
Các nguồn tin đều phỏng định có hằng trăm người vượt biển ra đi, cứ một người đến đất liền thì có một người chết trên biển cả. Bao gồm cả những thuyền nhân vượt biển, các đợt “bán chính thức” khi chính phủ Cộng Sản công khai đẩy Hoa kiều ra khỏi nước, khiến cho ngày nay, ở chân trời góc biển nào cũng có người Việt Nam lưu vong. Ðến nước Mỹ thì có chương trình con lai “tìm về đất cha”, chương trình định cư của những người tù “cải tạo”, chương trình “Ra Ði Có Trật Tự”, và chương trình bảo lãnh thân nhân của gia đình định cư tại Mỹ. Vì vậy cho đến ngày nay, nước Mỹ là nơi có đông người Việt định cư nhất trên thế giới, con số đó là một triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, chín trăm năm mươi người (1,642,950), chỉ mới tính đến năm 2007.
Thời gian nào được xem như thời gian chấm dứt cuộc trốn chạy chế độ Cộng Sản được xem như là dài nhất trong lịch sử loài người. Phải chăng là cho đến lúc Cộng Sản tuyên bố giai đoạn “mở cửa” và những người ra đi vội chóng quên đã trở về vui vẻ trong ngày lễ hội mới trên nền đất xưa, vốn một thời đã đầy dẫy xương máu, thù hận, xót xa của một thời chưa lấy gì làm xa lắm. Nhưng về, mà không ở lại, làm một người du khách mang hộ chiếu ngoại quốc thì dễ, nhưng làm một công dân bình thường trong chế độ Cộng Sản mới là khó. Ngày nay đã không còn những cuộc vượt biển trong bóng đêm. lén lút, nguy hiểm đến tính mạng cho người đi, nhưng không phải là những cuộc ra đi từ bỏ đất nước, hay nói cho đúng đắn hơn, chạy trốn chế độ Cộng Sản đã chấm dứt. Không một nơi nào dọc trên con “đường chết” từ Việt Nam đến Mỹ ngày nay chấp nhận cứu vớt bạn trên những con thuyền mỏng manh nữa và nước Mỹ cũng ngưng tiếp nhận người Việt vào đất liền, nếu bạn không đi qua ngã Ðại Sứ Quán Mỹ ở Việt Nam.
Cuộc ra đi ngày nay không phải lội sông, qua biển, chịu đói khát mà trái lại một cuộc ra đi có đón đưa, có tràng hoa mừng người mới đến. Và dù nói thế nào đi nữa, nước Mỹ vẫn là nơi người ta mơ ước được đặt chân tới, dù được ở lại thăm viếng một thời gian hay phải trở về. Có người vui vẻ đến Mỹ và được sinh sống mãn đời ở đây và cũng có người chỉ mong được vui chơi trong một thời gian ngắn, vì nước Mỹ không chấp nhận cho họ ở lại.
Có sinh viên, học sinh nào ở Việt Nam mà không muốn được đi du học tại Mỹ không? Có cán bộ “nhà nước” nào mà không mong con mình được xuất ngoại đến Mỹ, có thương gia nào mà không muốn gởi con vào các trường Ðại học Mỹ? Ðó là giấc mơ của tuổi trẻ và các bậc cha mẹ tại Việt Nam, nhưng không phải dễ thành sự thật, vì chi phí cho một du học sinh đến Mỹ quá cao: $25,000.00 học phí cho một năm chưa kể các chi phí ăn ở, y tế, phương tiện di chuyển, vui chơi giải trí, thủ tục xuất, nhập cảnh.
Vào niên khóa 2007-2008, số du học sinh từ Việt Nam đến Mỹ, xếp hạng thứ tự trên số du sinh toàn thế giới đang đứng hạng thứ 20 lên đến hạng thứ 13, nhờ chế độ qua thời “bao cấp” và bước vào thời “mở cửa”, nhờ ăn nên làm ra, nên cán bộ nhà nước và những người có “máu mặt” phải nghĩ đến việc gởi con ra ngoại quốc và chính phủ Mỹ cũng muốn tăng con số du học sinh Việt Nam đến Mỹ. Niên khóa 2009-2010, số sinh viên Việt đến Mỹ tăng 20% so với năm 2008 và 45% so với năm 2007. Theo con số được ghi nhận ngày 15 tháng 11 năm 2010, hiện nay số sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ là 13,112.
Phải công nhận rằng, ngày nay không phải tất cả du sinh Việt Nam tại Mỹ đều là con cái đảng viên, nói nôm na là “con ông cháu cha”, mà những ai phất lên trong cuộc “đổi đời” hiện nay tại Việt Nam, trong đó có cả những người của chế độ miền Nam trước đây đều cố gắng “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, tìm cách cho con cái đi học ở nước ngoài, đương nhiên đi Mỹ là ưu tiên. Chúng ta nên lấy làm mừng trước phong trào du học sinh Việt đến Mỹ càng ngày càng đông, nhưng chúng ta lấy lý do gì để nói đây là một cuộc bỏ nước ra đi thầm lặng, không khác gì những cuộc vượt biên ngày trước. Bạn thử làm một cuộc nghiên cứu về tâm lý sinh viên Việt Nam ở Mỹ, phỏng vấn hàng nghìn phụ huynh có con em là du học sinh, để có thể có một kết luận không xa thực tế mấy là xem như hầu hết sinh viên sau khi tốt nghiệp, hay chưa tốt nghiệp cũng chẳng sao, tìm cách ở lại nước Mỹ hợp pháp. Cha mẹ nào cũng trông mong con cái được lập gia đình, kết hôn với công dân Mỹ để có quyền ở lại Mỹ, gây được cơ sở làm ăn và đặt một nhịp cầu cho việc di dân của họ mai sau.
Một số sinh viên sau thời gian du học, phải trở về để quản lý tài sản của cha mẹ, điều hành cơ sở thương mãi của giòng dõi, nhưng không về cũng chẳng sao, vì bây giờ là lúc chuyển tài sản, tiền bạc sang nước Mỹ không còn là chuyện gì khó khăn. Có lẽ nước Mỹ cũng trông mong và khuyến khích việc này, chỉ mong đồng đô la mà người Việt tỵ nạn đã có quyền tự do, phung phí tiếp máu cho chế độ trong nước, có dịp trở lại nằm trong các trương mục ngân hàng của Mỹ.
Ai không có điều kiện được thân nhân bảo lãnh, hay xuất ngoại du học thì có chút tiền cũng tìm cách du lịch sang Mỹ một lần cho biết mặt “tên sen đầm quốc tế” ra sao. Bây giờ là thời đại bốn biển một nhà, ở Việt Nam, bây giờ người ta đi Hồng Kông, Trung Cộng, Thái Lan, Kampuchea, Singapore, Nam Dương, Nam Hàn, Mã Lai... dễ dàng như đi chợ, còn anh Tàu Cộng thì vào ra đất nước ta đêm hôm thế nào cũng được, vì “nhà nước ta” đã gỡ phên dậu, bỏ hàng rào cho người anh em hàng xóm “môi hở răng lạnh”, lúc nào muốn sang thì cứ sang. Nhưng quái lạ, là nước Mỹ vẫn giữ giá cao, vào ra nước Mỹ còn phải qua bao nhiêu thủ tục nhiêu khê, dù là đi chơi vài ba tháng cũng phải qua một cuộc phỏng vấn, tuy không khó khăn chỉ tóm gọn trong vài ba phút với một câu hỏi, nhưng cũng không phải là chuyện dễ dàng như lấy đồ trong túi.
Hiện nay có bốn thành phần vào nước Mỹ qua ngã Ðại Sứ Quán Mỹ: Du học, du lịch, công tác, di dân. Tại sứ quán Mỹ ở số 4 trên đường Lê Duẩn (đại lộ Thống Nhất cũ), năm ngày trong tuần, mỗi ngày ba đợt, mỗi đợt các viên chức Mỹ phỏng vấn khoảng 150 người, dù rớt dù đậu, mỗi người phải đóng lệ phí $140.00 (đô la Mỹ). Ðại Sứ Quán Mỹ ở Saigon đã có được số thu hàng tháng phỏng định: $140.00 x 600 người x 3 đợt mỗi ngày x 20 ngày = $4,400,000.00 (4 triệu, 400 nghìn đô la). Số người qua các cuộc phỏng vấn của các viên chức Bộ Ngoại Giao Mỹ tại Saigon chỉ có 20% được cấp visa, có nghĩa là 80% “tái đăng ký” phỏng vấn vì còn nuôi hy vọng vào Mỹ. Nếu một ngày nọ, lệ phí phỏng vấn tăng lên gấp đôi hay gấp ba, số người muốn ra đi cũng không hề thuyên giảm.
Ngày xưa nước Mỹ chấp nhận người tỵ nạn nên phải lo mọi thủ tục, nuôi ăn nuôi ở, cho huấn nghiệp, phiếu y tế, tiền trợ cấp... Ngày nay nước Mỹ mở cửa cho người Việt tự nguyện đem đồng đô la vào. Thành phần di dân chắc chắn sẽ sinh con đẻ cháu trên đất Hiệp Chủng Quốc này, thành phần du học muốn lập nghiệp ở Mỹ, không muốn trở về; du lịch và diện công tác không thể ở lại đất Mỹ. Nhưng cứ nhìn cái cảnh nhộn nhịp mỗi ngày trước cổng tòa nhà số 4 Lê Duẩn Saigon mới thấy cơn sốt “Mỹ du” đang lên cao.
Bà Dương Quỳnh Khanh, đã ghi lại những ý tưởng của bà trên “net” sau một chuyến du lịch ba tháng đến Mỹ do con gái bà bảo lãnh. Bà cho rằng “không phải ai cũng dễ dàng đặt chân đến vì đó là một nơi xa xôi, người dân bình thường, không họ hàng, không ai bảo lãnh, có tiền cũng khó đến được”. Nhận xét về người Việt đang sinh sống tại đây, bà Khanh đã nói: “Hiện nay, người Việt tại Mỹ ăn nên làm ra, thành đạt được sống trong tự do nhân quyền, họ đã khẳng định nước Mỹ là quê hương thứ hai, không thấp thỏm lo âu bị ai tước đoạt tài sản, không lo sợ bị khống chế tự do, nhân quyền, do đó họ sống thật bình yên.” Bà có kết luận: “Tôi chưa thấy bóng dáng thiên đường trên cao, nhưng đất nước nào giàu có, dân sống sung sướng lạc quan, không sợ hãi, không lo âu thì đó là thiên đường.”
Còn phần bạn, hiện nay đang sinh sống trên đất Mỹ, bạn có cảm thấy hạnh phúc hơn bao nhiêu người khác? Và bạn có biết bây giờ ở Việt Nam đang có một cuộc vượt biên lặng lẽ đang bùng phát không?

Monday, January 17, 2011

NƯỚC MẮT CHẢY XUÔI

Cứ mỗi lần có dịp phải vào nhà dưỡng lão để thăm người quen hay bạn bè, tôi thường có những suy nghĩ và ám ảnh, liệu rồi sau này lúc già yếu, bệnh hoạn, tôi có phải vào nằm ở đây không, mà ví như cha mẹ tôi còn sống, tôi có khả năng nuôi nấng săn sóc cha mẹ tôi ở nhà không hay lại phải đưa quý cụ vào đây?
“Nước mắt chảy xuôi” là thành ngữ Việt Nam nói đến tình thương chỉ có thể từ cha mẹ dành cho con cái, theo dòng thuận của đời người, từ cao xuống thấp, để khuyên chúng ta đừng đòi hỏi một sự báo đáp từ con cái. Nhưng sự thật, các bậc cha mẹ cũng buồn lòng khi thấy con cái đối xử với mình tệ bạc, nhất là đến tuổi già, bệnh tật, có khi bị bỏ quên, cha mẹ cảm thấy cô đơn, cần sự an ủi, săn sóc. Trong một bài viết về nỗi niềm của cha mẹ già bị bỏ quên trong xã hội hôm nay, tôi nhận được lá thư của một vị cao niên ở tận miền Ðông, bày tỏ ý kiến của cụ:
“Tôi đã khóc, khóc cho chính mình và cho ai trong tuổi già ở xứ này. Ông kể lại có cụ già đã chết cả một hai tuần, không ai biết. Con cái ở đâu? Ðó là những người có con mà còn vậy, còn những người không con thì chắc phải vô trường hợp này quá. Vì tôi không con gái, chỉ hai ‘đực rựa’, một ở Cali, một ở gần đây, nhưng ít khi kêu, và có khi không kêu hỏi thăm được một tiếng, lúc cần tiền hay cần gì đó mới kêu. Có lúc tôi nghĩ: hay mình bất hiếu với cha mẹ nên con cái nó bạc với mình chăng?
Ở Florida này cũng có một bà Việt Nam ở riêng, mỗi tuần có cậu con trai mang đồ ăn tới. Hôm đó cậu ta kêu cửa, nhưng không ai ra mở. Cậu ta tưởng bà cụ đi vắng bèn treo gói đồ ăn vào hàng rào cổng. Mấy ngày sau trở lại, thấy gói đồ ăn vẫn còn, mới khám phá ra bà mẹ đã chết. Thật là thảm!”
Ðây chắc chắn là chuyện này có thể tránh được. Nếu mẹ ở nhà riêng, con nên có một cái chìa khóa nhà để dùng lúc cần thiết. Ðem thức ăn đến cho mẹ, khi mẹ đi vắng, dù bận thế nào đi nữa, thì cũng vào nhà, để thức ăn vào tủ lạnh cho mẹ. Nếu mẹ ngủ thì cũng vào nhà xem mẹ có khỏe không? Ðiện thoại cho mẹ nhiều lần mà không nghe trả lời thì phải nhờ người ở gần, đến gõ cửa nhà mẹ xem sao, hay vội vàng chạy lại xem sự thể thế nào?
Câu chuyện như trên có thể xẩy ra bất cứ ở đâu.
Trái tim của người mẹ có nhiều chỗ dành cho đứa con, như đôi cánh của một con gà mẹ có thể dang ra che kín mười đứa con bé dại, nhưng người mẹ có chỗ nào trong trái tim của con. Ngày xưa, mẹ chưa bao giờ biết nói tiếng “bận” với con. Khi đang ăn mà con “làm bậy” cũng phải buông đũa đứng dậy. Nửa đêm dù đau yếu, mỏi mệt nghe tiếng con khóc cũng phải mở mắt, vỗ về và ôm con vào lòng. Sao các con bây giờ vẫn thường nói tiếng “bận” với cha mẹ. Vì bận nên các con đưa cha mẹ già lú lẫn vào nursing home, vì bận, nên theo lời một cô y tá cho biết, nhiều gia đình bỏ cha mẹ vào đây rồi không bao giờ lui tới thăm viếng. Cô cho biết nhiều người đã ở đây năm sáu năm rồi, không hề có ai lai vãng. Có bao nhiêu lý do để những đứa con có thể nêu ra để không còn chỗ nào trong lòng, nhớ đến cha mẹ. Nếu là đàn ông chúng ta nên vui, vì hiện nay trong các nhà dưỡng lão 70% là quý bà, vì các ông đã quy tiên sớm hơn vợ mình, thông thường ít nhất là 6 năm, để ngày nay khỏi phải chịu cảnh cô đơn, buồn tẻ.
Trước ngày Giáng Sinh tôi có dịp vào viếng thăm một người bạn sắp qua đời trong một nursing home. Trên hành lang dẫn vào phòng người bạn, và ngay trước chỗ làm việc của nhân viên ở đây, tôi thấy nhiều ông bà cụ ngồi trên những chiếc xe lăn, nhìn những người qua lại. Các cô y tá đã sắp xếp cho các cụ ra ngồi trên hành lang đối điện với văn phòng làm việc, một phần để trông chừng các cụ, một phần cho các cụ đỡ buồn. Nhưng các cụ nhìn sự vật một cách dửng dưng, đôi mắt đờ đẫn, có người đã gục đầu xuống ngủ. Giá mà có người đẩy xe lăn đưa các cụ đi dạo một vòng ngoài trời nắng ấm kia, chắc hẳn các cụ vui hơn và biết đâu cuộc sống sẽ kéo dài thêm một thời gian nữa. Giờ này trong công viên hay trên những con đường trong thành phố nhiều người mẹ đang đẩy chiếc xe đưa con đi dạo, nhưng vài mươi năm nữa ai sẽ đẩy chiếc lăn cho bà. Phải chăng định luật của cuộc sống và tình thương là “nước mắt chảy xuôi”, sẽ không bao giờ có một dòng nước chảy ngược về nguồn.
Người Âu Mỹ thường thèm địa vị của các bậc cha mẹ người Á Ðông lúc về già vẫn còn được con cái lui tới săn sóc, nhưng họ cũng nên nhớ lại, họ chỉ nuôi con cho đến năm 18 tuổi là hết bổn phận, trên pháp lý, không ai trừng phạt gì họ được, mà trên mặt tình cảm cũng không có gì phải cắn rứt lương tâm. Trong xã hội văn minh này, một đứa trẻ bỏ học, đi lang thang ngoài đường hay bị đối xử tàn tệ, cha mẹ có thể ra tòa và mất quyền nuôi dưỡng, còn những cụ già vô gia cư, đói khát bị bỏ bên lề đường, không ai có trách nhiệm và chẳng có ai phải ra tòa. Ðiều đáng nói là các cụ già cũng như những đứa trẻ, đều yếu đuối, không có khả năng tự bảo vệ và rất dễ xúc động, buồn vui. Trong một xã hội đáng gọi là văn minh, các trẻ em và người cao niên đều được che chở, bảo vệ và săn sóc chu đáo. Các cụ có các cơ quan xã hội lo thuốc men, thực phẩm nhưng với nỗi cô đơn, phiền muộn ai là người lo cho các cụ, trong khi những đứa trẻ có người an ủi, vỗ về và nói với nó những lời dịu ngọt.
Ngân khoản của liên bang cấp để ngăn ngừa tình trạng lạm dụng có đến 90% dành cho việc ngăn ngừa lạm dụng trẻ con, 7% để ngăn ngừa bạo hành trong gia đình nhưng chỉ có 2% sử dụng trong việc ngăn ngừa ngược đãi người già. Không biết có bao nhiêu đạo luật và ngân khoản dành cho việc chống lại việc ngược đãi súc vật? Cứ vào “Pet-Abuse.com” chúng ta sẽ tìm thấy hàng nghìn trường hợp công dân Mỹ, già và trẻ, đàn ông lẫn đàn bà bị tù tội, phạt tiền vì bạc đãi, bỏ đói, đánh đập hoặc giết những con vật thân yêu trong nhà. Bỏ quên một bà mẹ già trong nhà dưỡng lão nhiều năm có phải là một trường hợp ngược đãi không? Tôi nghĩ là không. Nếu có, luật pháp đã bắt đứa con phải phạt vạ hay vào nhà tù.
Theo người xưa, tuổi thọ là một ơn Trời và là một phúc đức lớn cho gia đình nào có cha mẹ tuổi thọ cao, trước nhất là của chính người cao tuổi nhưng đồng thời cũng là cho con cháu, bởi vì cha mẹ có sống lâu, con cháu mới có cơ hội được thể hiện lòng hiếu thảo. Có ba điều người ta thường mong ước ở đời là Phước, Lộc và Thọ. Phước có chỗ đứng cao hơn hết, Lộc thì phù du mà Thọ chưa hẳn đã là may mắn.
(Huy Phương)

Friday, December 4, 2009

HUẾ CỦA MỘT THỜI

Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
IMG_7603
Trong giọng nói, có một cái gì đó gọi là rất Huế, đối với Quảng Nam-Ðà Nẵng, cách nhau một ngọn đèo thì có khác, cũng là điều đương nhiên, nhưng với Quảng Trị, cách mấy mươi cây số đường đồng bằng, giọng Huế không lẫn vào đâu được. Dạ, dạ thưa tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.
Cầu Trường Tiền
Vì phải sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên phải kềm giữ sự yên tĩnh, nho nhã theo cung cách quý tộc, quan liêu hay bình dân thôn giã cũng phải nhu mì, gia giáo. Theo các nhà nghiên cứu về thổ âm thì cho rằng, “Ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng tho.ạ” Ðiều rất Huế trong giọng nói này, lâu hóa thành thói quen, được xem là một phong thái lịch sự đặc biệt không đâu có. Làm sao người ta quên được cái tiếng dạ lạ kỳ của người con gái Huế, dạ để khỏa lấp, dạ để từ chối, dạ để đồng ý hay dạ có nghĩa là không gì hết. Làm sao anh chàng trong Quảng ra thi có thể hiểu hay chịu đựng nổi một lối trả lời vô thưởng vô phạt, nhưng nhỏ nhẹ, không thể trách vào đâu của một người con gái Huế mà anh ta muốn làm quen.
-Em tên chi? Dạ!
-Nhà em ở đâu? Dạ!
-Tôi có thể làm quen với em được không? Dạ!
Phải chăng ở nhà trước khi đi Mạ đã dặn không ăn trầu người, đừng để người lân la, trước ngoài sân sau lần vô bếp, tốt hơn hết là cứ dạ cho nhỏ nhẹ, cho lễ phép, cho tới khi mô hết dạ nổi thì thôi. E lệ, khép nép là những đặc tính của người con gái Huế mỗi khi nàng gặp khách lạ như thi sĩ Ðinh Hùng đã ghi lại, “Cô gái Huế đa tình, vành nón nghiêng khép nép.”
Điện Thi Ha
Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo, vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên quái ác. Cái thời áo trắng quần trắng đã làm cho bao nhiêu chàng trai phải xốn xang rụng rời trước cái mờ mờ ảo ảo, nửa che mà nửa không của cái sương khói mờ nhân ảnh đó. Bạn cũng biết là nữ sinh Huế không bao giờ mặc quần đen, cái màu không tinh khiết, tội lỗi đó, có gì thì cũng phải che đậy, ngụy trang cho tới cùng.
L1070441
Tính cách Huế thường là che dấu hay tự chế những cái phàm tục, bao gồm cả trong cách nói năng, ăn mặc, ứng xử. Khách đến nhà, thì gia chủ hay con cái trong nhà, phải quấn lại mái tóc, mặc vội chiếc áo dài, mới dám bước giáp mặt khách, dù thân hay sơ.
IMG_8007
Tội nghiệp cho những người con gái Huế phải sinh ra trong những hoàn cảnh bần hàn, với một hai chiếc áo mà phải thay đổi luôn luôn, cứ bước ra khỏi cổng nhà là phải lên áo dài, bất kể đi đâu. Ngày nay phải chăng sự thanh lịch đó còn lại nơi chiếc áo dài, dù là chiếc áo dài cũ, bạc màu, vá víu của người con gái gánh một mớ bông thọ ra chợ, hay nơi bà bán đậu hũ trên vĩa hè, dù chân thì đi đất, miệng còn bập bập điếu thuốc Cẩm Lệ sâu kèn.
L1070811
Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt, chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng, người Huế cũng không muốn cho ai biết. Cũng có khi cái nghèo mà nghèo kiểu cách, nghèo cái kiểu mệ chém củ khoai, buổi sáng trên chiếc mâm đồng chỉ có mấy chén cháo trắng thì gọi là “thời” cháo hoa.
L1070626
Cái ăn không còn là cái khoái trá có thể hả hê trưng bày ra ngoài mà hình như phải giấu kín đi mới gọi là người nho nhã. Cơm đường, cháo chợ, cách đây vài mươi năm, trong xã hội Huế còn được xem là thứ tầm thường, hèn hạ. Bạn có biết là ngồi quán cà phê cụ Phấn là một sự cách mạng lớn trong xã hội Huế vào những thập niên năm mươi không? Ðến như khi cái xe nước mía từ Saigon du nhập ra Huế quả là đã thay đổi nhiều lắm. Ngay cả vào những năm 1950, Huế cũng chưa bao giờ có cái cảnh ăn đứng góc đường như chúng ta thường thấy ở khu Pasteur-Lê Lợi Saigon.
L1070466
Dân Huế ngày xưa thời phong kiến là vua chúa, quan lại, viên chức triều đình, binh lính và thư sinh, một thời sau đó là quân nhân, công chức và học sinh, sinh viên, không thấy có mấy ngành nghề công nghệ hay thương mãi, con buôn hình như không được trọng vọng mấy trong xã hội nho nhỏ này, cái lối xếp hạng sĩ nông công thương. Các ngành tiểu công nghiệp như chằm nón, đóng khăn, đóng giày, dệt lụa có khi được tuyển chọn từ các địa phương trong cả nước về kinh đô để phục vụ cho giới vua quan, sau đó ra cả cho thứ dân, nhưng không thấy có cơ hội phát triển ra rộng lớn.
L1070735
Một nơi không có kỹ nghệ, không có nhà máy, không vận dụng nhiều đến cơ khí, thì cũng là một nơi yên tĩnh, nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp. Thành phố mang một vẻ cổ kính hiền hòa, và không khỏi đượm một vẻ nghèo khó. Cũng như những thành phố cổ xưa, nhỏ bé khác, Huế như trong một chòm xóm nhỏ mà người dân hầu hết đều biết nhau, và vì sự giao thông hạn chế, chỉ có một chiều ngang theo quốc lộ, một mặt thì ngăn bởi biển, một mặt thì chặn bởi núi, ở đó thành kiến còn nặng nề, cố chấp, ít chấp nhận được cái mới lạ, tân thời. Khoảng năm 1948-49, khi mệ Sen (con vua Thành Thái), một người đàn bà Huế, lần đầu tiên dám lái một chiếc xe hơi Simca Aronde, thì cả thành phố coi đó là một hiện tượng dị thường.
L1070628
Ðến với Huế, người ta như đi trở ngược lại dòng thời gian, ở đây, quá khứ bao trùm lên tất cả. Ở đâu cũng thấy những dấu vết nhắc ta nhớ tới những ngày tháng đã qua. Cung đình, bia mộ, lăng miếu thời Thăng Long hiện hữu trong gần tám thế kỷ, nhưng đã cách xa ta chừng hai thế kỷ, một phần đã mai một theo thời gian. Kinh đô Thuận Hóa thì vẫn còn đây với những di tích, đền đài, lăng tẩm, với những ngàn thông reo, với những bờ tre xanh mướt bên dòng sông Hương lặng lẽ. Những người đã khuất mà hình như linh hồn còn ở đâu đây, phảng phất bóng tinh kỳ hay tiếng trống chiêng, bát nhã, sênh phách cầm ca. Nơi đây, những dấu ấn của lịch sử còn ẩn hiện trên mỗi bờ thành, góc phố, nơi tấm bia mộ hay trên những lăng tẩm. Nơi đây là dĩ vãng, là tháng ngày qua, người ta về đây là để hồi tưởng, để nhớ nhung. Ở đâu cũng đượm một vẻ buồn, mà người ra đi thường ray rứt muốn có một ngày trở lại. Quê hương là cái gì mà người ta nặng lòng với nó như thế tôi thấy ở đây sao buồn quá! (Ðinh Anh Dũng trong Nhớ Huế).
Sng Hương
Quá khứ của Huế được ghi nhận nhiều nhất qua những công trình lăng tẩm mà các vua nhà Nguyễn trước khi băng hà đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ kiểu cách và xứng đáng của một bậc đế vương, từ địa thế, khung cảnh tĩnh mịch đến các kiến trúc lộng lẫy. Nơi nào cũng là núi rừng bao la, có đại thụ, có hồ sen cùng với tiếng chim, tiếng suối, tiếng thông reo đem lại cái cảm giác dịu dàng thơ mộng và yên tĩnh cho tâm hồn con người.
IMG_8089
Huế không những là vùng đất của quá khứ, mà Huế còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là của hương trầm, là của chuông mõ luôn luôn nhắc nhở tới sự hiện diện của những linh hồn oan khuất. Ðó là những linh hồn chưa siêu thoát trong một bề dày của Huế tang tóc, chết chóc, tức tưởi, của những ngày thất thủ kinh đô, khi giặc Pháp tấn công Huế năm 1885, lúc voi ngựa cùng người dày xéo lên nhau thoát ra bốn cổng thành, của giặc giã thanh toán hận thù nhau qua thời đại tứ nguyệt tam vương của Tường-Thuyết, của hàng ngàn cái chết oan khuất giữa ngày Tết Mậu Thân mà máu xương rải rác từ đồng bằng Phú Thứ cho đến khe sâu Ðá Mài, của thây chất thây trên bờ biển Thuận An dưới cơn mưa pháo 75, của hàng trăm thân xác cuốn theo dòng nước lũ của mùa Thu năm Kỷ Mão. Có chỗ nào âm u, sầu thảm hơn Huế với những địa danh Ngã Tư Âm Hồn, Miễu Âm Hồn, cồn chém An Hòa, Mả Ông Trạng hay cả đến cái quán cơm có cái tên ma quái không đâu có là quán cơm Âm Phủ.
L1070728
Ban đêm, Huế có chỗ nào là không có lập lòe nén hương, xuýt xoa khấn vái, cầu nguyện. Sau tang tóc Mậu Thân, hãy về Huế mà nghe, nửa đêm về sáng, láng giềng, hàng xóm vang dậy chuông mõ và tiếng tụng kinh cầu nguyện cho những người đã mất sớm được siêu thăng. Huế là nơi đã trải qua nhiều biến cố đau thương, Huế đã than khóc với những tang tóc và oan khuất sẽ không bao giờ phai lạt. Nơi mỗi khu vườn của Huế đều có mỗi am thờ cho những người khuất mặt, với hoa quả, một cành hoa phượng và một ngọn đèo leo lét. Linh hồn những người khuất mặt hình như vẫn còn lẩn khuất đâu đây.
IMG_8001
Ngày xưa mỗi năm vào ngày hai mươi ba Tháng Tư Âm lịch, để ghi nhớ ngày thất thủ kinh đô trong lịch sử, khắp nơi, nhất là ở vùng chợ Ðông Ba, người ta đã dựng trai đàn, chẩn tế suốt một tuần lễ theo nghi thức Phật Giáo để cầu siêu cho những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát. Cũng như ngày lễ Vu Lan ở Huế có phần trọng đại hơn với những nghi lễ cúng cô hồn các đảng thập phương, phóng sanh, phóng đăng để hồi hướng công đức cho tất cả những người đã mất. Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Cha Thin Mụ
Nói đến Huế, chúng ta liên tưởng đến những cảnh chùa chiền. Không đâu trên đất nước, trong một vùng đất nhỏ hẹp mươi chục cây số vuông, mà có tới trên một trăm cảnh chùa. Ðược cơ duyên như vậy là do từ gần bốn trăm năm trước. Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Ðế, tên húy Nguyễn Hoàng trong khi vào Nam tìm Hoành Sơn nhất đái để dung thân, đã hạnh ngộ với một bà tiên (hay bụt) trong giấc mơ, chọn đất Hà Khê (Kim Long) để dựng chùa Thiên Mụ. Cho tới những đời vua sau, chùa chẳng những được trùng tu và xây dựng thêm (tháp Phước Duyên xây năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị) mà khắp đất thần kinh, chùa chiền được xây dựng thêm rất nhiều, khiến bây giờ Huế có những cảnh chùa rất đẹp, xét về mặt nguy nga tráng lệ, không thể so với lăng tẩm, nhưng không thiếu khung cảnh u tịch, nên thơ. Báo Quốc, Từ Ðàm, Diệu Ðế, Thuyền Tôn, Tường Vân và nhất là Linh Mụ, là những ngôi chùa đã ghi nhiều kỷ niệm trong lòng dân đất Thuận Hóa, Phú Xuân. Và trong tuổi ấu thơ của mỗi người Huế, ai không ghi dấu lại kỷ niệm của một ngày lên chùa?
Ngọ Mn - Huế
Nhớ Huế làm sao khỏi nhớ đến những khu vườn. Vườn là khoảng không gian của thời thơ ấu của mỗi chúng ta, là bóng mát thời trẻ dại, là những nỗi hẹn hò, là những thứ trái cây ngọt ngào hay chua chát mà vẫn mang đầy hương vị của thời mới lớn. Những cây mít, những hàng ổi, những gốc thơm, những chùm khế. Nào nhãn lồng, nào vải trạng, nào là dâu. Có khi là bồ quân, có khi là lựu, có khi là đào. Tuổi ấu thơ và nhất là thời mới lớn, tuổi dậy thì, lòng ai không khỏi ngát hương hoa, trong một khu vườn tĩnh mịch nào đó, với nỗi lòng rung động thuở ban đầu còn trong suốt và đơn giản như những giọt sương mai.
Một gc qun Vỹ Dạ Xưa
Vườn của những vương phủ với giả sơn, hồ sen, thủy tạ, với những bức bình phong, tường ngăn trang trí bởi những mảnh sứ vỡ làm thành hình Long Lân Quy Phụng hay Mai Lan Cúc Trúc.
L1070484
Những khu vườn đó đây ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Gia Hội, ở Ngự Viên, ở An Cựu là những khu vườn đã mang bao nhiêu lời thơ ý nhạc, mang bao nhiêu tình yêu thuở thiếu thời, là nơi của hẹn hò, mong đợi, thương nhớ
Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển
Là đây hoa cỏ giống vườn tiên
Gót sen nhẹ bước lầu Tôn Nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên
(Nguyễn Bính)
Một gc vườn của qun
Vườn Huế ngày Hè còn rộn tiến ve, nhắc nhở tới mùa thi cũng là mùa chia cách. Giữa những buổi trưa yên lặng mùa Hè, một tiếng ve cất lên khởi đầu, rồi muôn ngàn tiếng ve vùng lên phụ họa, tạo nên một khúc hòa tấu, âm thanh lan ra từng vùng rộng lớn. Cùng với hoa phượng nở trên những con đường xứ Huế, tiếng ve đã mang mùa Hè đến bao nhiêu lần trong quãng đời học trò, ghi lại bao nhiêu mối tình, bao nhiêu sum họp và chia ly.
IMG_7794
Nhà ở Huế thường làm sâu vào giữa vườn, từ cổng vào nhà có khi phải qua một hàng rào bông cẩn (dâm bụt) hay chè tàu, thỉnh thoảng rắc bởi những sợi dây tơ hồng màu vàng rực. Cậu học trò mới lớn, còn rụt rè, nhút nhát muốn làm quen với cô bé trong nhà làm sao có đủ cam đảm để vượt qua cái con ngỏ dài hun hút đó, hay những đêm trăng, đành thơ thẩn qua lại nơi ngỏ ấy mà ôm mối tình si. Hương trong vườn Huế, có khi là hương bưởi, có khi là hương dạ lý, có khi là hương sói, hương lài, hương mộc lan, cũng có khi là hương sầu đông thơm ngát một khung trời thời trẻ dại. Và đêm vườn Huế làm sao có thể thiếu trăng. Trăng lặng lẽ soi những bóng cây trong vườn, trăng lên trên đọt cau, trăng ướt trên ngọn dừa. Và trăng trên sông Hương, trăng trên màu sáng bạc của cầu Trường Tiền, trăng trên mái thuyền, trăng vỡ dưới mái cheo và ánh trăng rung động theo âm thanh của những tiếng hò đêm trên sông.
L1070449
Huế với những dòng sông chảy ngang dọc tạo cho Huế một vẻ đẹp tươi mát dịu dàng. Huế có con sông Hương lượn lờ qua Lăng Gia Long, Minh Mạng, qua Ðiện Hòn Chén, qua Văn Thánh, Linh Mụ, Kim Long, về Vỹ Dạ, Cồn Hến, Tây Thượng trước khi tới Thuận An. Huế có con sông đào xinh xắn từ cầu ngói Thanh Toàn, qua An Cựu về Bạch Hổ nắng đục mưa trong, với con sông từ Gia Hội, ngang qua chùa Diệu Ðế qua Ðông Ba tạo nên cái cảnh “Ðông Ba, Gia Hội hai cầu, ngó vô Diệu Ðế bốn lầu hai chuông,” với con sông đào từ cầu Bạch Hổ, qua Phú Xuân, tới An Hòa. Tất cả dòng sông đó đã ôm ấp Huế, chảy qua những khu nhà vườn, những bậc tam cấp của những khu vườn ven sông, mang những tiếng cười trong trẻo của ai ngày đó vang qua tới bờ sông bên kia.
L1070733
Với những dòng sông như thế, Huế có những con thuyền bềnh bồng trên bến nước, những ngọn đèn hiu hắt bên sông và cả những câu hò vang vọng, mang mang theo sóng nước đi rất xa, và cả với những mối tình chia cắt của ngày nào khi mà “thuyền về Ðại Lược, duyên ngược Kim Long.”
L1070806
Nhưng cùng theo với những dòng sông đó, mỗi năm cơn bão lụt đã gieo tai họa thảm khốc xuống Huế. Nghèo đói, tai ương hầu như triền miên trên mảnh đất miền Trung cằn cỗi, nhưng Huế chính là tâm điểm của hiểm họa thiên tai. Có nơi nào chịu nhiều nỗi bất hạnh, thống khổ như Huế. Những xác người trôi ra biển cùng với những mái tranh nghèo theo những cơn nước lũ, cơn đói đổ ập lên cả một vùng đất cằn cỗi trong nhiều ngày tháng. Có nơi nào chịu những cảnh chết chất chồng dày xéo, có nơi nào chịu cảnh chết thảm khốc trong những mồ tập thể như Huế. Phải chăng Huế chịu căn nghiệp của cha ông đã thôn tính, tàn sát, đồng hóa cả một Chiêm Quốc trong một thời Nam tiến.
IMG_7640
Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh. Huế là “nơi đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương.” Người xa Huế như xa một mối tình không trọn vẹn, nhưng xa rồi, thương nhớ xót xa biết bao nhiêu. Huế là nỗi ám ảnh không rời, Huế là nơi gợi cho chúng ta những giấc mơ xưa không bao giờ thành, là nơi chúng ta thường mong ngày trở lại nhưng không bao giờ đúng hẹn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể “tắm hai lần trong một dòng sông,” như không thể tìm lại mùi vị của một món ăn ngày trước, hương thơm dịu dàng của một đêm trăng sáng trong vườn xưa, và một mối tình xa xôi đã mờ nhạt.                                                    
L1070856        
Bài Huy Phương
Hình ảnh Huế hè 2009
...

@Quán Không Gian Xưa

IMG_7828

Cơm Đập
IMG_7831

Cá Bống Kho
IMG_7832
        

Saturday, May 30, 2009

Ngày Tốt Nghiệp (Huy Phương)

Trên đường vào nhà con gái, tôi tình cờ đứng lại bên chiếc xe của đứa cháu ngoại và nhìn những tấm stickers dán trên kiếng xe, có hai tấm, một là parking permit của trường college mùa Fall năm ngoái, một cho mùa Spring năm nay. Thế là cháu ngoại đã vào college được gần một năm. Thời gian qua quá nhanh. Bỗng dưng những tháng ngày xưa hiện về.
Mười chín năm trước, cháu chỉ là một đứa trẻ tám tháng, ngủ mê mệt trên tay bà ngoại trên chuyến bay xuyên Thái Bình Dương từ Saigon đến San Francisco. Cuộc sống bắt đầu ở Mỹ đầy bận rộn và khó khăn, trong khi bố mẹ phải đi làm cật lực, cháu được phó thác cho ông bà. Làm sao con có thể nhớ ngày đầu tiên, ngoại đưa con đến trường vào lớp mẫu giáo, cho đến mới năm ngoái đây, dự lễ tốt nghiệp trung học của con, quãng thời gian dài nhưng đi quá nhanh, phải nói là như một chớp mắt.
Trong quãng thời gian đó, đã bao lần ông ngoại đưa đón, chờ xe dưới cơn nóng nắng gắt hay cả trong khi tuyết rơi, chờ con ngoài sân vận động hay ở nhà bạn bè trong một buổi hội họp cuối tuần. Ở miền Ðông, ông bà ngoại đã cùng chơi tuyết với con, dắt con đi tìm các loại lá vàng mùa Thu để làm bộ sưu tập mai đem vào lớp học.
Cuối tuần, ông bà đã dắt con ra ngoài park để con chạy nhảy nô đùa với bạn bè. Con lớn lên từng ngày, có thể ông bà không bao giờ nhận ra, cũng như tuổi già đến lúc nào mà ông bà không bao giờ thấy, cho đến một ngày nọ.
Một biến cố gì đó xảy ra, khi chúng ta dừng lại ở một dấu mốc ngày tháng nào đó, như chuyện ông ngoại vào bệnh viện trên chiếc xe cấp cứu, ngày ra trường của con, hay đến một lúc nào đó, con được cha con đưa vào nhà thờ, đi trên tấm thảm đỏ để nhận chiếc nhẫn đính hôn từ tay một thằng con trai xa lạ nào đó.
Ðối với những người mẹ, thì nuôi con, tấm lòng mẹ đã trải dài biết bao nhiêu năm, với những tất bật, lo âu, phiền muộn từ khi đứa bé lọt lòng. Những bình sữa ấm, muỗng thuốc giảm sốt thời bé bỏng cho đến những chiếc lunch-box với chiếc bánh mì thịt, chai nước lúc vào trường. Mẹ mừng con chập chững biết đi ngày nào, cũng như lo âu vào ngày con được chính thức ngồi vào sau tay lái của chiếc xe đầu tiên của đời con. Mẹ đã chờ con lúc đi học về, nhìn y phục của con, nhìn vẻ mặt của con để tìm ra những gì đã xảy ra trong lớp học hay ngoài sân chơi trong ngày hôm nay, cũng như mẹ thức suốt đêm lo lắng và cầu nguyện lúc con đi dự lễ Prom mải mê với bạn bè chưa về.
Nếu con là trai, mẹ sợ con theo bạn bè hư hỏng, nhận phải những điều tai ương, với con gái mẹ lo sợ từng lúc theo quan niệm Á Ðông của mẹ, chuyện “khôn ba năm, dại một giờ.” Mẹ muốn con thật thà, tỏ bày với mẹ những gì con đã gặp, con đã làm và những điều gì con dấu giếm, không muốn nói ra, nhưng bây giờ con đã có một thế giới riêng của con.
Ðối với mẹ, bao giờ con cũng là đứa con bé bỏng dưới bàn tay che chở của mẹ, dù hôm nay, ngày tốt nghiệp con đã trở thành một ai, một nhân vật nào đi nữa. Nhưng những lời khuyên răn, dạy dỗ của mẹ bây giờ không còn phù hợp nữa. Nhiều đứa con gái đã chẳng kêu lên: “Mẹ ơi! Con đâu còn nhỏ nữa!” là gì!
Ngày ra trường kết thúc một thời gian theo đuổi việc học, có thể để bắt đầu cho một cuộc đời mới mẻ của đứa con, nhưng người mẹ mơ hồ cảm thấy đó là một giai đoạn kết thúc từng chặng đời của bà, đối với từng đứa con. Như con chim đủ lông đủ cánh, đứa con sắp rời tổ để bay xa. Ðội mũ tốt nghiệp, mặc áo choàng, cổ mang vòng hoa tím, con tươi cười giữa đám bạn bè, anh chị em vây quanh chúc mừng ngày ra trường của con.
Cả cha mẹ cũng đến ôm con vào lòng, nói những lời chúc tụng bình thường, nhưng có đứa con nào nói được một lời, chân thành với nước mắt, mà cũng không người mẹ nào mong được nghe con nói một câu như: “Mẹ ơi! được như ngày hôm nay cho con, mẹ đã trải qua biết bao nhiêu lo âu, hy sinh biết bao nhiêu tiền bạc, sức khỏe. Con mang ơn mẹ biết bao nhiêu!”
Tình thương như dòng suối chảy mãi từ cao xuống thấp, như “nước mắt chảy xuôi,” chuyện thường tình mà nhiều thế hệ người Việt chúng ta đã xem như là một định luật. Mười tám tuổi, đối với đứa con là tuổi trưởng thành, nhưng đối với người mẹ con chỉ là một đứa bé ngày nào không hơn không kém.
Người mẹ ao ước được ôm những đứa con trong tay vì lúc nào bà cũng tưởng như chúng hãy còn bé dại. Những món ăn bà chăm chút nấu ra không còn là món thích của con thời nhỏ, những giờ phút quanh quẩn bên mẹ không còn có gì thích thú, bây giờ bạn bè công việc là nguồn vui mới, đâu có điều gì mà đứa con cần phải kêu lên hai tiếng, “Mẹ ơi!”
Cứ một vài năm hay có khi từng năm một, người mẹ đã lần lượt dự nhiều ngày lễ ra trường của con cái, nhưng nhà mỗi năm mỗi vắng, những đứa con càng ngày càng xa gia đình hơn, trong khoảng cách lẫn trong tâm tưởng. Ngày Mother's Day vừa qua, nhiều bà mẹ nhận được những lẵng hoa từ tiệm bán hoa mang lại, kèm theo hoa là những tấm thiệp vô hồn, đã được in ra hằng loạt. Tên của con đó, nhưng do một bàn tay xa lạ đã viết thay. Có khi là một tấm thiệp mua từ tiệm tạp hóa do con đã gởi từ xa về, có khi là một vài dòng chữ gởi mẹ qua máy điện toán. Và có khi, không là gì cả.
Vào khoảng thời gian này, nhiều trường lễ tốt nghiệp đã được cử hành trọng thể, đem lại niềm vui cho nhiều gia đình. Lời chúc mừng đầy trên các trang báo, tiệm hoa đông người mua, những nhà hàng nhiều gia đình đặt chỗ cho tiệc mừng. Ngày ra trường đối với nhiều người là sự kết thúc một đoạn đường vất vả học hành, nhưng bắt đầu từ đây là sự nghiệp, tiền bạc và thăng tiến ngoài xã hội. “Ðại đăng khoa” rồi “tiểu đăng khoa,” sau đỗ đạt là hôn nhân, rồi tiếp theo là xe mới, nhà đẹp, con ngoan, “vinh thân-phì gia.” Ít người nhìn lại tình nghĩa gia đình và món nợ xã hội phải trả (trừ món “loan” mượn để học hành), vì những món nợ này không có chủ nợ và cũng không thấy ai đòi.
Ðối với gia đình, ngày ra trường để lại trong mỗi gia đình những khoảng trống.
Ngày ra trường là một dấu mốc thời gian. Từ đó con ra đi với cuộc đời mới, con đường thênh thang trước mắt mà ít khi nhìn lại. Người mẹ vẫn ở đó, dưới mái nhà xưa kia, rộn rã tiếng cười trẻ thơ, bây giờ chỉ con nghe tiếng Việt chuyển âm từ những cuốn phim bộ Trung Quốc đang chiếu trên máy truyền hình.
Người xưa thường cho rằng trên bàn thờ những đứa con nhà nghèo lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Chúng ta nhìn lại những gia đình ở Việt Nam ngày trước, những gia đình có những đứa con đỗ đạt là những gia đình trống vắng, vì những đứa con giỏi giang may mắn đều có nhiệm sở mới, đi làm ăn xa để lại nơi ngôi nhà cũ những đứa con ít học, nghèo hèn hay những cô con gái lỡ duyên, muộn màng hầu hạ cha già mẹ yếu hoặc chăm lo hương hỏa từ đường.
Một ngôi làng có nhiều khoa bảng là một ngôi làng thường mang cảnh vắng lặng trong những ngày giỗ chạp, cúng tế hằng năm. Ở hải ngoại ngày nay, thường ít có cảnh cha mẹ ở với con cháu chung nhà như người xưa vẫn thường ca tụng: phước đức cho ai có được cảnh “tứ đại đồng đường”(bốn đời ở chung dưới một mái nhà).
Sau những niềm vui, là những nỗi buồn.